Thứ sáu, 21 Tháng 3 2014 13:21

Đối Nhân Xử Thế

Written by
Rate this item
(1 Vote)

Con : Giuse TRẦN KHÁNH THƯ; vì tâm tư khắc khoải bấy lâu, song song với những biến chuyển đã và đang xẩy ra tại Trung Tâm Cộng Đồng, mặc dầu nhận thấy bản thân thấp hèn, kém văn hóa, suy luận chất phác, nhưng cũng cố gắng tham khảo các bài vở, tìm tòi các tài liệu hữu ích, để cống hiến cũng như xin mạn phép kính gửi đến Quý Cha, Quý Sơ, Quý Ban Mục Vụ và Hội Đồng Mục Vụ, Quý Vị lão thành, Quý Ông Bà và Anh Chị Em thuộc Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Brisbane : Bài học làm người trong Thuật ĐỐI NHÂN XỬ THẾ.

Đối Nhân Xử Thế là cung cách xử sự với người đời trong thời đại mới, và cũng là phong cách khôn ngoan của một người có ý thức sống ở đời, biết mình biết người, biết ăn ở với từng người khác cho hợp tình hợp lẽ để người khác tôn trọng mình.

Trong từng trường hợp và lãnh vực sinh hoạt xã hội, một người biết cách "Đối Nhân Xử Thế" là một con người trí thức tiến bộ, và có thể sống thích nghi với mọi hoàn cảnh.

Với cuộc sống bon chen của con người thời nay, văn minh công nghiệp đã làm tăng triển của cải vật chất, nhưng đồng thời làm giảm nhẹ giá trị tinh thần trong mối tương giao khôn khéo. Những đối xử giữa con người với nhau, trong mọi lãnh vực ngày càng khô khan, máy móc hóa và vơi kém đi phần tế nhị, chân thành, nồng hậu.

Đã đến lúc những nhà khoa học xã hội nhận thấy rằng, cần phải thay đổi lề lối ăn ở của nhau. Và "làm sao ăn ở cho vừa lòng người khác" đã được đặt ra như là một yêu cầu thiết yếu trong mọi lãnh vực giao tế, nơi mà người ta ngày càng nhận thức ra rằng sự khôn khéo trong lời ăn tiếng nói, trong đối xử rất cần thiết cho sự thành đạt. Sự tinh tế và khôn khéo được đặt ra như là trọng điểm của khoa giao tế ngày nay, mà cũng là một căn bản cho hầu hết mọi người đối đãi với nhau cho lịch sự hơn, nồng thắm hơn.

Cổ nhân nói rằng : "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" sao ? Cái gì mình không muốn người khác làm cho mình, thì đừng làm cho kẻ khác. Có ai là người muốn bị người ta chạm đến lòng tự ái của mình không ? Thế sao mình lại thích lấn áp người trong lời nói để người ta phải đỏ mặt, tía tai cho cam. Làm cho người ta cùng lý đến phải ngậm miệng, đỏ mặt, toát mồ hôi, mình tuy hả lòng thật, nhưng đấy là người nông nổi khắt khe làm sao....; thế là bất công, mà cũng là bất nhân nữa. Mặc dầu, hả lòng được một ít, mà lắm khi còn di hại cho mình đến thảm khốc cũng không chừng....... Thế thì đâu phải chỉ bất công, bất nhân mà lại còn bất trí nữa là khác.

Người xưa đã nói : "Nhân chi sinh bất hạnh bất văn quá, đai bất hạnh vô sỉ". Con người sinh ra có một cái không may, là không được nghe điều lỗi của mình; nhưng cái không may lớn hơn cả là không biét điều sỉ nhục. Theo LỄ KỲ : Dở nhất trong đạo xử thế là không biết nhận thấy cái lỗi của mình. Trong đạo xử thế, biết trách mình là người khôn, chỉ trách người là người vụng về.

Chữ LỄ của người Á Đông chẳng những có ý nghĩa là tự trị, tự chủ, mà cũng có nghĩa là Nhân nữa. Học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần nhận định tiếp về chữ LỄ như sau : Lễ là nhún nhường, đem cái bản ngã của mình để sau kẻ khác, đâu phải là giả dối du mỵ để mưu lợi cho mình. Lễ, là tránh cái đau khổ cho bản ngã kẻ khác bằng cách hy sinh bản ngã của mình. Lễ, là không chạm đến lòng tự ái của ai cả. Lễ, là che cái xấu, giấu cái dở và biểu dương cái hay cái đẹp của người ta. Phải là người không ích kỷ, diệt được cái bản ngã của mình, rồi mới làm nổi việc ấy, làm một cách thản nhiên, vô tư lợi.....

Hiểu được tất cả cái ý nghĩa thâm sâu của chữ LỄ, và học được bấy nhiêu thôi, là đã học được cái mật pháp của thuật xử thế rồi.

Thuật Xử Thế của người xưa đã phân định ra hai vấn đề như sau :

A.- Nhất là người trên mà đối xử với kẻ dưới cần phải cẩn thận nhiều về chữ Lễ, vì kẻ dưới với cái tâm cảm tự ty của họ, khó mà tha thứ những điều sơ suất của ta về lễ độ được. Người trên mà thất Lễ với kẻ dưới, là một sự thường rất dễ hiểu : kẻ phú quý hay tài hoa hơn kẻ khác thường dễ sinh tự phụ và kiêu khi. Nhưng họ nào có dè, kết quả của sự kiêu căng vô lễ của họ, nó nguy hiểm thâm độc không biết chừng nào....

B.- Kẻ nghèo thường hay sợ kẻ giàu khinh. Kẻ hèn thường hay sợ kẻ sang khinh. Cái tâm cảm tự ty thường khiến họ có những cử chỉ tự trọng thái quá : họ rất dễ bị phẫn khích vì những thói khinh bạc của người trên. Ta nên biết và tha thứ trước cho họ : chẳng qua đó là một lối họ trả thù cái địa vị cao sang tài đức của mình hơn họ mà thôi.

Trong Ngạn Ngữ Pháp có câu : "Một người vì mọi người, mọi người vì một người". Một người mà biết quên mình để sống với tha nhân, biết sống và làm việc cho mọi người, đối xử tốt với mọi người thì mọi người cũng sẽ đối xử tốt, hết lòng với mình. Đây là một nguyên tắc xử thế của người Phương Tây đã có từ lâu, trong cái ý nghĩa : " Cư xử với thiên hạ thế nào thì thiên hạ cũng sẽ cư xử lại như thế ấy". Và sau đây có câu Châm Ngôn vỏn vẹn mười ba chữ : Hãy làm cho người khác điều bạn muốn người ta làm cho bạn, hoặc :

Hãy tử tế với đời. Đời sẽ tử tế với bạn.

Hãy thân thiện với người khác ! Người ta sẽ thân thiện với bạn.

Và ngược lại :

Thù ghét người ta, người ta sẽ thù ghét mình !

Theo Kinh Thánh; Thiên Chúa phán : "Ta bảo các ngươi : Phàm ai giận tức anh em mình, thì sẽ bị can án" (Matthêu 5: 22).

Đây có phải là một định luật quá đơn giản không ? Chắc chắn không đơn giản như bạn tưởng đâu. Bạn hãy thử áp dụng và sẽ thấy. Triết lý đơn giản này đã thực hành hàng ngàn lần đều đem lại kết quả thật kỳ lạ.

Đời sống xã hội có đầy dẫy những đề tài lý thú để gợi chuyện như tình yêu, tình bạn, nơi giải trí, lúc đàm đạo hay các sinh hoạt hàng ngày tại nơi công cộng v.v.... Nhưng khi nói chuyện về những vấn đề nầy, chúng ta nên lưu ý vài điểm sau, để cuộc giao tiếp gây ấn tượng tốt đẹp :

- Đừng nói về mình, nhất là không khoe khoang về khả năng đặc biệt của mình, ví dụ những chuyện liên quan đến cách kiếm tiền, hay sự thông minh tài giỏi của mình.

- Đừng cố gắng tỏ vẻ sành sỏi về những điều mình không biết rõ.

- Đừng bao giờ tham gia bàn cãi về sự thất bại của người khác.

- Nói chuyện vui, không nói những chuyện buồn phiền cá nhân.

- Không để mình bị lôi cuốn vào những chuyện có thể gây tranh cãi.

- Không nói xấu người vắng mặt. Nếu có ai gợi ý chỉ trích người nào đó, hãy khéo léo chuyển đề tài. Tự tập luyện cho mình, luôn ghi nhớ khi nói chuyện về một người vắng mặt hãy xem như người ấy đang có mặt trước mắt mình, bạn sẽ bớt đi tật nói xấu người khác.

Lưu ý tới những điều trên, bạn sẽ dễ dàng được cảm tình với mọi người trong sự giao tiếp hằng ngày.

******

ĐỐI THOẠI :

Để bắc lại nhịp cầu Hiểu Biết và Tình Thương, với những mong ước cần thiết đến đời sống tinh thần và thể xác của mọi người trong Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Brisbane, chúng ta cần phải tái tạo sự ĐOÀN KẾT và HIỆP NHẤT trong Đức Tin để tôn thờ Thiên Chúa. Cùng nắm tay nhau GIẢI HÒA những mâu thuẫn, hiểu lầm, khúc mắt đã và đang xẩy ra. Chúng ta hãy quyết chí, nỗ lực trong phương thức ĐỐI THOẠI. Làm mọi cách để khắc phục những khó khăn; mọi thành phần trong Cộng Đồng cùng ngồi lại bên nhau, hăng say làm việc vì một mục tiêu, mang lại ích lợi chung cho công chúng, tôn trọng lẫn nhau, lắng nghe, tìm hiểu, trao đổi với nhau về tất cả những tình huống khả dĩ gây ra chia rẽ, hận thù, trong cuộc sống, trong sinh hoạt hằng ngày tại Trung Tâm Cộng Đồng. Bởi lẽ, Cộng Đồng chúng ta đã trải qua gần tám năm dài đằng đẵng, với biết bao nhiêu phiền phức, gian nan và thử thách.

Tuy nhiên cho đến bao giờ, những vấn đề thiết thực và chính đáng ấy mới được giải quyết và trở thành hiện thực, trong tâm tưởng của mỗi người ?

Con đường hận thù đang còn chạy xuyên qua quả tim của từng người, phía bên nầy cũng như phía bên kia. Và nhiều thành phần còn lại chỉ biết đứng nhìn từ ngoài với đôi mắt bàng quan. Tệ hại hơn nữa, họ còn « thêm dầu vào lửa », bằng cách vỗ tay hoan hô, cổ võ bên này, hay là tố cáo, đả đảo bên kia.

Không cần nói về ai khác xa xôi, chúng ta hãy can đảm nhìn vào chính mình. Trong lòng Quê Hương Việt Nam, từ những ngày đầu tiên thuộc thời kỳ dựng Nước, Tổ Tiên, Cha Ông của chúng ta cũng đã cưu mang, nuôi dưỡng những ý thức lạ lùng và kỳ diệu, giống như những dân tộc khác, trên mặt địa cầu. Qua ca dao và tục ngữ, mà cổ nhân đã trối trăn lại những bài học làm người, cho con cái và cháu chắt, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác :

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một Nước, hãy thương nhau cùng.

Bầu ơi, thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn

Sách LUẬN NGỮ có câu : Yêu ai, cũng nên biết điều dở của người ấy. Ghét ai, cũng phải biết điều hay của người ấy.

Ngoài ra, nhiều câu chuyện Huyền sử, được lưu truyền trong dân gian, nhắc nhở rằng : chúng ta tất cả đều là anh chị em đồng bào, được sinh ra từ một cha và một mẹ. Chúng ta cùng chia sẻ với nhau một bào thai, trong cung dạ của Bà Âu cơ. Cha chúng ta là Rồng. Quê Hương và nguồn gốc của Người là Đại Dương bao la, hùng vĩ. Mẹ chúng ta là Tiên. Quê Hương và dòng máu của Mẹ là Bầu Trời trọng đại và cao cả.

Tuy nhiên, từ thời nguyên thủy cho đến ngày hôm nay, chúng ta chưa bao giờ thấm nhuần và hội nhập những bài học làm người ấy trong xương da và máu thịt của mình. Mặc dù đã phải trải qua bao nhiêu chu kỳ khổ đau trầm trọng, bao nhiêu tình huống khó khăn; chúng ta vẫn cứ khư khư làm « gà một nhà bôi mặt đá nhau ». Từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, chúng ta luôn luôn sắp hàng thành hai phe « Sơn Tinh và Thủy Tinh », để gieo rắc hận thù, chia rẽ.

Thay vì nhìn lui quá khứ để trách móc, ta thán, tố cáo người nầy, đổ lỗi cho người nọ, như chúng ta đã làm, thường làm và còn làm... nghĩa là suốt đời dẫm chân tại chỗ, trong vòng khổ đau chồng chất ê chề và dai dẳng... phải chăng ngày hôm nay đang là thời điểm thuận lợi, để chúng ta cùng nhau kết hợp lại, cố quyết thực hiện hai điều chủ yếu :

Thứ nhất là can đảm khám phá nguyên nhân nào đã đưa đến tình trạng oái oăm, khốc liệt và khổ đau ấy.

Thứ hai là sáng tạo con đường hướng tới ngày mai. Đó là con đường Hiểu biết và Tình thương, Đồng cảm và Đối thoại.

Tuy nhiên, Đối thoại thực sự là gì ?

Vì tương lai của con cháu, cũng như vì tiền đồ của nền Văn Hóa Quê Hương, ngay từ bây giờ, chúng ta cần thực thi những động tác cụ thể và tích cực nào, để những ý hướng trọng đại của Cha Ông có thể biến thành hiện thực sáng ngời, trong tầm tay của mỗi người trong chúng ta ?

Mỗi lần chúng ta đưa ra một ý kiến, bênh vực một lập trường, trình bày một quan điểm về chính trị hay là tôn giáo... trên mặt khoa học và nguyên tắc hành động, chúng ta cần phải đi qua ba giai đọan thiết yếu, trong lãnh vực tư duy và lý luận :

1/- Chúng ta quan sát và ghi nhận những dữ kiện cụ thể và khách quan :

Mỗi khi chúng ta nêu lên một số tin tức hoặc sự kiện, xảy ra bên ngoài, chung quanh chúng ta như vậy, chúng ta cố quyết phản ảnh và trình bày những gì chính chúng ta thấy và nghe một cách trực tiếp và trung thực. Chúng ta không thêm, không bớt, không bóp méo hoặc xuyên tạc. Không lấy râu ông nọ, cắm cằm bà kia. Không vơ đũa cả nắm. Không có ít, xít ra cho nhiều. Không cường điệu, một cách ba hoa, vớ vẩn.

2/- Chúng ta thuyên giải :

Sau khi đã thu lượm một số dữ kiện hoặc tin tức, chúng ta đưa ra ý kiến hay là quan điểm chủ quan của chúng ta. Công việc nầy còn mang tên là giả định, hay là đề xuất một giả thuyết. Theo lối nói thông thường được sử dụng, ngày hôm nay, trong môi trường văn hóa và khoa học, giai đoạn thứ hai nầy được gọi là THUYÊN GIẢI. Xuyên qua cách làm nầy, chúng ta khoác vào cho các sự việc đã xảy ra, một ý nghĩa, một hướng đi tới. Ý nghĩa nầy còn mang đầy tính cách chủ quan của người phát biểu, bao lâu chưa được kiểm chứng với nhiều sự kiện khác hay là do nhiều người khác góp ý và chia sẻ, bổ túc và kiện toàn, sửa sai và điều chỉnh.

3/- Chúng ta chắt lọc một kết luận, để gây ảnh hưởng hoặc tác động trên môi trường :

Sau khi đã kiểm nghiệm và chứng minh giả thuyết, chúng ta rút ra một kết luận, khẳng định một quy luật có tính thường hằng và bất biến, được mọi người chấp nhận, nếu họ đi lại cùng một tiến trình từ đầu chí cuối, giống như chúng ta. Chính kết luận nầy sẽ có khả năng điều hướng những chọn lựa và quyết định của chúng ta, trong lãnh vực hoạt động, hay là trong cách thức rút tỉa những bài học thực tế cho cuộc sống.

Tuy nhiên, ngoài lãnh vực thuộc về những khoa học chính xác, như toán, lý và hóa...chúng ta không bao giờ đạt được mức độ « sự thật chắc chắn một trăm phần trăm », trong những kết luận thông thường và hằng ngày của chúng ta. Một cách đặc biệt, trong địa hạt tiếp xúc và quan hệ giữa người với người, khi có một trăm người phát biểu, chúng ta sẽ dễ dàng ghi nhận « một trăm ý kiến khác nhau ». Chẳng hạn, sau khi chứng kiến tận mắt một tai nạn xe hơi trên đường phố, ba chứng nhân sẽ đề xuất ba lời chứng khác nhau, có khi hoàn toàn mâu thuẫn với nhau.

Cần Lưu Ý : Mỗi lần chúng ta đưa ra một ý kiến, về người anh chị em, trong nhiều lãnh vực khác nhau, như chính trị, tôn giáo hay là phương thức làm ăn... phải chăng chúng ta đã lưu tâm và cẩn trọng đến cả ba giai đoạn trên đây : khảo sát những sự kiện, kiểm chứng những giả thuyết và cân nhắc kỹ càng những kết luận ?

Phải chăng chúng ta đã « đánh lưỡi bảy lần », như Tô Tiên, Cha Ông chúng ta đã căn dặn, mỗi khi phát biểu một nhận định hay là phê phán về giá trị, bản sắc hay là tác phong của một người khác, thuộc môi trường gia đình và xã hội ?

Từng lời nói của chúng ta phải chăng là một viên gạch góp công xây dựng ngôi nhà Hòa Bình của Cộng Đồng Dân Chúa ? Hay đó chỉ là miệng lưỡi (lưỡi không xương mà !) ... nhằm triệt phế Nguyện Đường Trung Tâm, hay tiêu trừ và hủy diệt người anh chị em đồng bào, đồng hương và đồng loại ?

Đối thoại : Trong lăng kính vừa được trình bày, là trao đổi, chia sẻ qua lại hai chiều, trong ý hướng tôn trọng và thăng tiến lẫn nhau, cũng như làm giàu cho nhau, trên bình diện thành nhân. Hẳn thực, trong điều kiện và thân phận làm người, không bao giờ có hai người hoàn toàn y hệt nhau, nhất là khi họ thâu lượm tin tức, trình bày lập trường tư tưởng, ngoại hiện những phản ứng xúc động tình cảm, cũng như khi kết dệt những quan hệ giữa người với người. Chúng ta khác biệt nhau, như Trời và Biển, như Rồng và Tiên, như Sơn và Thủy. Nhưng nhờ khác nhau như vậy, chúng ta mới có thể bổ túc, kiện toàn cho nhau, cùng nhau thực hiện những công trình cao cả và trọng đại, trong môi trường sinh hoạt hiện nay.

Một cách cụ thể, Đối thoại bao gồm ba động tác tiếp nối và tác động trên nhau :

- Động tác thứ nhất : Tôi diễn tả và khẳng định lối nhìn, quan điểm và nhu cầu chính đáng của tôi.

-Động tác thứ hai : Sau khi khẳng định mình, tôi tạo điều kiện thuận lợi, cho phép người khác có một thời gian và không gian, để nói về thực tế và con người độc đáo của họ. Cũng như họ đã nghe tôi nói, bây giờ đến lượt họ phát biểu, tôi lắng nghe một cách cẩn trọng, tìm hiểu thực tế và nhu cầu cơ bản của họ là gì. Theo cách nói ngày nay, tôi nhận làm của mình « khung quy chiếu của họ ». Trong đó, có cách thức nhìn đời và bao nhiêu phản ứng xúc động thường nhật.

-Động tác thứ ba : Cả hai bên, người và tôi cùng nhau tìm ra mẫu số chung, mảnh đất đứng chung, lối nhìn đồng quy, và đồng thuận.

Nói một cách vắn gọn, khi đối thoại, tôi cố quyết làm người và thành người. Đồng thời, tôi tôn trọng tư cách làm người của kẻ khác. Hẳn thực, đằng sau những nét khác biệt, nếu chúng ta học NHÌN, giúp nhau NHÌN, cùng nhau chấp nhận và nhìn nhận giá trị của nhau, thì thế nào, chúng ta cũng sẽ tìm ra rất nhiều điểm giống nhau. Ít nhất, cả hai chúng ta cũng đều kinh qua những cảm nghiệm đớn đau ê chề giống như nhau, trong cuộc sống. Cả hai chúng ta đang có những ưu tư và hy vọng giống như nhau. Cả hai chúng ta cũng đang đấu tranh quyết liệt, để vươn lên, hướng thượng, ngõ hầu trối trăn cũng như để lại cho con cháu sau này một di sản, một Ngôi Nhà chung là nơi cùng nhau sum họp, một Trung Tâm Cộng Đồng thân yêu; lành mạnh, an ổn và phát triển. Cả hai chúng ta đang đổ ra bao nhiêu mồ hôi và nước mắt, cộng vào với xương máu mà Tổ Tiên và Cha Ông đã chất lên thành núi, đã đổ ra thành sông, trong hơn bốn nghìn năm lịch sử.

Theo lối nhìn của tác giả Stephen R. Covey, khi hai người có khả năng trao đổi, đối thoại, họ đang « sinh thành và sáng tạo cho nhau ». Họ không phải chỉ là hai nguời đơn độc, đứng sát kề nhau. Trái lại, như vết dầu loang, họ sẽ gieo hạt nảy mầm, để rồi hằng nghìn, hằng triệu người anh chị em đồng bào cũng sẽ đi vào quĩ đạo tương thân, tương ái giống như họ. Trong nỗi lòng người Công Giáo Việt Nam, nếu « trăm người như một, một người như trăm », chúng ta sẽ biến mình thành Bồ Tát Quan Thế Âm, có trăm con mắt để nhìn, có trăm cánh tay để làm, có trăm đôi chân để đi những bước dài vạn dặm. Và nhất là có trăm quả tim để yêu thương đồng bào nhất là Người Việt tha hương.

Và lúc bấy giờ, đúng như câu nói của tác giả người Mỹ là G.G. JAMPOLSKY :

  • Bất kỳ một câu hỏi nào được nêu lên, yêu thương là câu trả lời.
  • Bất kỳ một vấn đề gì xuất hiện, yêu thương là câu trả lời.
  • Bất kỳ một cơn bệnh nào đang đe dọa và hoành hành, yêu thương là câu trả lời.
  • Bất kỳ một nỗi khổ nào đang tiến lại, yêu thương là câu trả lời.
  • Bất kỳ một xúc động sợ hãi nào đang trào dâng, yêu thương là câu trả lời.
  • Yêu thương luôn luôn là câu trả lời, trong mọi tình huống, vì chỉ có yêu thương là tất cả

Không dấn bước trên con đường Hiểu biết và Yêu thương như vậy, chúng ta sẽ sa vào cạm bẫy hận thù, chia rẽ. « Mầy phải chết, để cho tao sống. Mày và tao không thể nào đội trời chung »... Phải chăng đó là những câu nói diễn tả tâm tình và ý hướng của chúng ta, mỗi lần tiếp xúc và giao thiệp với những người sống hai bên cạnh ?

Như trên đây, người viết đã nhấn mạnh lui tới, chúng ta khác nhau, trong rất nhiều địa hạt. Khác nhau trong lời ăn tiếng nói. Khác nhau, trong cách nhìn và cách nghe. Khác nhau trong nhận thức và tư duy. Khác nhau trong tâm tình, nhu cầu, ý thích và sở nguyện. Thay vì tìm cách bổ túc và kiện toàn cho nhau, chúng ta dựa vào những nét khác biệt tất yếu ấy, để loại trừ, tố cáo, phê phán, mạt sát lẫn nhau. Tư tưởng NHỊ NGUYÊN và LỐI NHÌN ĐỘC LỘ đang trấn áp cõi lòng của chúng ta. Tư tưởng nhị nguyên xuất đầu, lộ diện, mỗi lần chúng ta tranh giành phần hơn, phần thắng, phần tốt, phần có lý về cho mình. « Tao Hơn, Mày Thua, Tao Tốt Mày Xấu, Tao có Lý, Mày phi lý... », phải chăng đó là những câu nói luôn luôn có mặt, trên đầu môi chót lưỡi của tất cả mọi người trong chúng ta ?

Còn tệ hại hơn nữa, lối nhìn độc lộ, một chiều đang trấn áp tâm hồn của chúng ta. Đó là tên độc tài đầu đàn, đang điều khiển, lèo lái mọi tên độc tài khác đang có mặt trong lòng nhân loại. Tên độc tài ấy đang đặt sào huyệt trong tư duy của chúng ta. Cho nên, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi, chúng ta có xu thế quy chụp, gắn nhãn hiệu, tố cáo và đổ lỗi cho người khác. Đó là con đường dẫn đến tình trạng bạo động, hận thù và khiêu khích, khắp đó đây, trên mặt địa cầu, ngày hôm nay, hôm qua và ngày mai.

Nói tóm lại, chỗ nào có bạo động trong tư duy, lời nói và hành vi, chỗ ấy không có Hòa Bình giữa người với người, và không có An Lạc trong nội tâm. Chỗ nào còn có tình trạng tố cáo, đổ lỗi, chia rẽ, hận thù... chỗ ấy không có Đối Thoại, Đồng Cảm và Đồng Hành. Chỗ nào con người còn tranh giành hơn thua, còn kỳ thị xấu tốt, chỗ ấy không có Con Đường Hiểu Biết và Tình Thương. Chỗ ấy chỉ có KHỔ ĐAU tràn lan, lây lất, lai láng, trong mọi hang cùng, xó xỉnh của cuộc đời.

Vậy chúng ta chọn lựa con đường nào cho chúng ta và con cháu của chúng ta ? Khổ đau trong hận thù ? Hay là An Bình Nội Tâm, trên Con Đường Hiểu Biết và Tình Thương, Hòa Bình và Hạnh Phúc bắt đầu từ bản thân và gia đình nhỏ bé của chúng ta ? Chúng ta mỗi người hãy bắt đầu tề gia, trước khi bàn đến những chuyện to tát như trị quốc, bình thiên hạ.

Vai trò BẮC CẦU của mỗi người trên con đường xây dựng và phát huy Đối Thoại :

Đồng Cảm để Đồng Hành : Như đã trình bày, những động tác cụ thể cần thực hiện, mỗi lần chúng ta chọn lựa thái độ « Đồng Cảm » với tha nhân, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hẳn thực, không có khả năng Đồng Cảm giữa người với người, Đối Thọai chỉ là chuyện ba hoa chích chòe, lý thuyết, viễn mơ, hay là quảng cáo, tuyên truyền láo khoét mà thôi.

Khả năng Đồng Cảm xuất hiện rất sớm, trên tiến trình giáo dục, làm người và thành nhân. Chung quanh hai tuổi rưỡi, một đứa bé khi nhìn vào đôi mắt của Mẹ, đã có thể cảm nghiệm : Mẹ đang sung suớng hay là khổ đau trong tâm hồn ? Mẹ lo sợ, tức giận, cấm đoán ? Hay là Mẹ bằng lòng cho mình đi ra dạo chơi chung quanh vườn nhà.

Không có khả năng Đồng Cảm như vậy, làm sao chúng ta có thể nhận ra rằng : Khi một người lên tiếng tố cáo, chửi bới, mạt sát chúng ta, cũng như khi họ trầm luân, chìm đắm trong hận thù, mưu hại chúng ta, chia để trị chúng ta... chính người ấy đang giam hãm mình trong khổ đau tràn trề lai láng. Có lẽ, suốt cả cuộc đời, từ ngày sinh ra, họ chưa bao giờ được ai thương. Chưa được ai dạy dỗ cho họ biết đồng cảm với kẻ khác. Phải chăng, với thái độ đồng cảm, cho phép ai nấy cảm nghiệm được thế nào là thương yêu và được người khác thương yêu lại, môt cách thực sự và trọn vẹn, theo như ý nghĩa « cho ra và nhận lại », một cách vô điều kiện ?

Thêm vào đó, khi một người sống trong khổ đau trầm trọng, từ ngày này qua ngày khác, họ trở nên lạnh lùng, chai đá, mù quáng. Họ có mắt, nhưng họ không còn thấy. Họ có tai, nhưng họ không còn nghe. Họ có một con tim như chúng ta. Nhưng con tim ấy đã bị đầu độc từ bao nhiêu ngày tháng.

Thí dụ điển hình : Với những bà mẹ có đứa con chậm trí, chậm phát triển. Ít nhất, trong những ngày tháng đầu tiên, khi vừa mới gặp phải một biến cố bất ngờ như vậy, họ đớn đau, tê tái, kiệt quệ, cơ hồ mọi tai họa trong trời đất nầy đều đổ xuống trên đầu óc và cuộc đời của họ. Cho nên, giữa tình huống khổ đau, kinh hoàng và tê liệt như vậy, họ không còn biết nhìn con, nuôi con, bi bô, thỏ thẻ chuyện trò với con. Với đứa con mang khuyết tật, họ đánh mất mọi khả năng đã học tập. Họ không còn làm được những gì họ đã làm với những đứa con khác.

Cũng giống hệt như vậy, khi hai người đang sống với những xung đột nghiêm trọng, cả hai đều trầm luân trong khổ đau. Họ chửi bới, mạt sát lẫn nhau, với những lời lẽ bỉ ổi thậm tệ. Cả hai giành nhau nói cùng một lúc. Cho nên, không ai lắng nghe ai, để nhận biết người bên kia có những nhu cầu và sở nguyện như thế nào. Và cứ như vậy, vấn đề kéo dài, từ ngày này qua ngày khác và không bao giờ được giải quyết, một cách thỏa đáng.

Khi đối mặt với những tình huống khổ đau của người khác, như vừa phác họa trên đây, chúng ta có trách nhiệm làm những gì có khả năng làm, trong điều kiện hiện tại, để bầu khí quan hệ giữa người và người đã ô nhiễm, bị đầu độc, không còn ô nhiễm thêm lên mỗi ngày.

Thứ nhất, điều chúng ta cần làm là không thinh lặng đồng lõa, đứng chứng kiến một cách thụ động.

Thứ hai, chúng ta không « đổ thêm dầu vào lửa, bằng cách ủng hộ, vuốt đuôi, về phe bên nầy và tố cáo, đá đảo phía bên kia.

Trong môi trường văn hóa của Quê Hương, Tổ Tiên và Cha Ông chúng ta đã đề nghị những cách làm quan trọng như sau :

- Chúng ta hãy dốc toàn lực, cố quyết nối lại khắp đó đây những nhịp cầu Hiểu Biết và Đồng Cảm. Chúng ta BẮC CẦU, cho bờ bên nầy gặp lại bờ bên kia, nói chuyện trao đổi với nhau, trong an hòa và tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ cho nhau niềm đau và nỗi khổ của mình.

- Chúng ta cũng rỉ tai cho mọi người biết rằng : họ có đủ khả năng để bước tới với mọi người, như mọi người. Ai ai cũng hãy tin ở sức mình. Giải trừ những mặc cảm tự ti, bất lực. Bỏ lại đằng sau những cảm nghiệm tội lỗi. Kỳ thực, nếu chúng ta đã lầm lỡ, chúng ta dựa vào đó, để rút ra những bài học, những kinh nghiệm. Sai lầm lúc bấy giờ không còn là sai lầm trong tương lai. Nó sẽ biến thành một cơ may, để thăng tiến bản thân và phục vụ anh chị em đồng bào. Hãy cùng nhau đốt lên một que diêm, trước khi chờ đón một rừng đuốc. Hãy đổ một giọt mồ hôi, thay vì đứng hô hào, bằng mồm bẳng miệng. Trao cho bà con lân cận một nụ cười chân tình và thân ái, thay vì rao giảng ồn ào về Tình Anh Em bốn bể một nhà.

Tất cả những công việc : Lắng nghe, Đồng cảm, tạo nhịp cầu cho hai phe gặp gỡ và trao đổi với nhau, nhìn nhận nhu cầu và quyền lợi chính đáng của mỗi người, mang tên là BẮC CẦU, LÀM TRUNG GIAN, trong khoa học Tâm Lý Xã Hội, thuộc thời đại Nghìn Năm Thứ Ba.

Công việc Bắc Cầu ấy bao gồm những động tác cụ thể như sau :

Thứ nhất là có mặt ở giữa : tạo điều kiện thuận lợi, cho hai người hoặc hai phe xung đột trình bày và xác định vấn đề của mình. Người bắc cầu đề xuất những tiến trình và quy luật, để hai bên lần lượt trình bày trong trật tự và an hòa quan điểm chủ quan của mình. Trong giai đoạn xác định vấn đề, trách nhiệm của người bắc cầu là giúp cho cả hai phía « môi trường hóa » những thông tin và ý kiến của mình : Cái gì ? Ở đâu ? Khi nào ? Thế nào ? Với ai ?... Những quy luật cần được cả hai phía tôn trọng một cách nghiêm chỉnh là : Quy luật một : sử dụng ngôi thứ nhất « Tôi », để nói về mình. Thay vì dùng ngôi thứ hai, để kết án, tố cáo. Nhìn mình như vậy để ý thức về mình, trước sự chứng kiến của người bắc cầu và người thuộc phe bên kia. Quy luật thứ hai là lắng nghe một cách nghiêm chỉnh và cẩn trọng, đồng thời tìm hiểu, khi kẻ khác nói ra nỗi lòng bức xúc và khổ đau của mình. Xuyên qua cách làm như vậy, người bắc cầu chính là nơi gặp gỡ, và điểm hội tụ. Quy luật thứ ba là hai phe xung đột không có phép nói trực tiếp với nhau. Họ chỉ nói xuyên qua người trung gian, giải thích, trình bày cho người trung gian, theo những thể thức và quy luật đã được ấn định với người trung gian. Nếu có trường hợp người bên nầy cắt lời và phản đối người bên kia, vai trò và trách nhiệm của người bắc cầu là nhắc lại quy luật thứ ba nầy : Ông đã nói trong 5 phút. Bây giờ, đến lượt Bà, Bà cũng có quyền nói trong vòng 5 phút. Tiếp sau đó, Ông cũng sẽ phát biểu trở lại. Không ai cắt lời của ai.

Thứ hai là nêu ra những câu hỏi xúc tác : dựa vào đó, người nói có thể dễ dàng phát biểu những xúc động như buồn, lo, tức giận, thất vọng, bất mãn... của mình, ngoại hiện một cách đầy đủ tất cả những tình huống đang trấn áp nội tâm.

Thứ ba là chuyển hóa những xúc động thành NHU CẦU. Ví dụ : Khi Ông, Bà nói như vậy, Ông, Bà cảm thấy mình có những xúc động gì ? Khi diễn tả nỗi niềm bực tức, như Ông Bà vừa làm, Ông Bà có những nhu cầu cần phải thỏa mãn là những gì ?

Thứ bốn là xúc tác tinh thần TRÁCH NHIỆM. Người bắc cầu không làm thay, làm thế. Chính những người trong cuộc chọn lựa và quyết định về phương thức và chiều hướng giải quyết vấn đề của mình. Khác với người trọng tài, người bắc cầu không làm công việc giàn hòa. Người bắc cầu cũng không đưa ra những đề nghị hoặc áp đặt từ ngoài hay từ trên những lời khuyên.

Nói tóm lại, người bắc cầu chỉ làm công việc xúc tác, với sự có mặt « vô công, vô vi và vô tư của mình ». Chính những người hoặc phe phái, trong vụ xung đột, mới là những tác nhân năng động, tìm ra con đường chuyển hóa bản thân và sáng tạo những phương hướng giải quyết vấn đề của mình.

KẾT THÚC : Theo thiển ý, bài viết này có mục đích đóng góp phần nào trong muôn một với những ý nghĩ thô thiển, thiết tha ước muốn LÀM nhịp cầu thông cảm giữa Người ViệtNam trong Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Brisbane. Chúng ta đồng tâm loại bỏ những ƯU PHẪN, những HIỀM KHÍCH, những NHƯỢC ĐIỂM của nhau; để nối lại mối tương quan với mọi khuynh hướng; hầu mang lại sự AN VUI và HẠNH PHÚC cho mọi Ki-Tô hữu nơi vùng đất Nữ Hoàng nắng ấm Brisbane này. Kính mong Quý Cha, Quý Sơ, Quý học giả, Quý bạn đọc, Quý Vị hằng quan tâm tới sự TỒN VONG của Cộng Đồng Người Việt Công Giáo Brisbane ; xin vui lòng giảng giải, hy sinh đứng ra làm trung gian, truyền đạt lý tưởng, điều giải những nan đề như đã nêu ra ở các mục trên, ngoài ra, xin giúp đỡ người viết, bằng cách : góp ý kiến, bổ túc những thiếu sót, sửa chữa những sai lầm, chải chuốt các từ nghĩa, để người viết học hỏi thêm những kinh nghiệm của các bậc đàn anh, trau giồi thêm kiến thức, cũnh như kiện toàn nội dung bài viết, tăng thêm hoàn thiện và phong phú.

Trân trọng Kính Chào toàn thể Quý Vị và Quý Quyến.

Xin Chúa Ban Ơn An Bình cho mọi tâm hồn Ki-tô hữu tạiBrisbane.

Brisbane, ngày 21 tháng 10 năm 2012

Giuse TRẦN KHÁNH THƯ

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

-1 Gerald G. JAMPOLSKY Change your mind, change your life (Bản Việt Ngữ năm 1991).

-2 NGUYỄN VĂN THÀNH (Đồng Cảm để Đồng Hành năm 2003.

-PHẠM CÔN SƠN (Cung cách cư xử với người đời năm 1994).

BẢN SAO KÍNH GỬI :

- Các Cha ViệtNamtạiBrisbane "Để Tường Trình".

- Các Sơ ViệtNamtạiBrisbane "Để Kính Tường".

- Các Thành Viên trong Ban Mục Vụ C.Đ.C.G.V.N.Brisbane "Để Kính Tường".

- Các Giáo Họ, Hội Đoàn Đoàn Thể, Phong Trào, Chương Trình, }

Ca Đoàn, Giới Trẻ, Thiếu Nhi Thánh Thể } "Để Tường".

- Anh Quang Phục "Để xin được đăng tải trên Website Cộng Đồng".

- Phổ biến đến các Hội Viên Lêgiô CĐCGVN/Brisbane.

- Lưu chiếu.

Read 3374 times Last modified on Thứ tư, 13 Tháng 5 2015 20:52